
(Khảo sát tại mô hình làm nấm)
Đoàn kiểm tra đã khảo sát các mô hình chăn nuôi gà, vịt tại thôn Quý Phước; nuôi cầy vòi hương tại thôn Quý Thạnh 1 và trồng nấm tại thôn Chung Phước. Qua kiểm tra, nhiều mô hình đã mạnh dạn đầu tư cơ sở vật chất, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, từng bước nâng cao năng suất, hiệu quả kinh tế và giảm tác động đến môi trường.
Tại thôn Quý Phước, mô hình chăn nuôi vịt công nghệ cao của ông Nguyễn Thanh Quế được triển khai từ năm 2020, với quy mô khoảng 60.000 con/năm. Trang trại được đầu tư chuồng kín, sàn lưới nhựa, hệ thống điều chỉnh nhiệt độ, quạt thông gió, làm mát cùng máng ăn, máng uống tự động.
Mô hình đồng thời áp dụng các giải pháp xử lý chất thải, khử mùi và sử dụng hầm biogas. Nhờ đó, môi trường chăn nuôi được kiểm soát tốt hơn, góp phần hạn chế dịch bệnh. Vịt được nuôi trong khoảng 39-42 ngày, trọng lượng đạt trên 3,3-3,5kg/con, tỷ lệ sống có thời điểm đạt 97%; lợi nhuận khoảng 300 triệu đồng/năm.
Cũng tại thôn Quý Phước, các mô hình chăn nuôi gà công nghệ cao được đầu tư hệ thống chuồng kín, giàn mát, quạt thông gió, máng uống tự động và máy phát điện dự phòng. Gà được nuôi trên đệm lót sinh học nhằm giảm mùi hôi, hạn chế vi khuẩn gây bệnh và góp phần bảo vệ môi trường. Quy mô các mô hình từ 20.000-40.000 con/năm.

(Mô hình nuôi gà)
Một mô hình theo hướng kinh tế xanh được ghi nhận tại thôn Chung Phước là sản xuất và nuôi trồng nấm men, nấm dược liệu hữu cơ. Triển khai từ năm 2018 trên diện tích khoảng 1.000m², mô hình tận dụng mùn cưa, vỏ trấu, bã mía và các phụ phẩm nông - lâm nghiệp làm giá thể.
Theo đó, nguyên liệu được xử lý, hấp khử trùng, cấy giống và chăm sóc theo quy trình khép kín. Việc tận dụng phụ phẩm nông nghiệp vừa góp phần giảm chất thải, vừa tạo ra sản phẩm có giá trị kinh tế, hướng đến sản xuất nông nghiệp an toàn, thân thiện với môi trường.
Qua rà soát, các mô hình cơ bản hoạt động ổn định, có khả năng duy trì và nhân rộng. Tuy nhiên, địa phương cũng nhìn nhận một số hạn chế như quy mô sản xuất còn phân tán; việc ghi chép nhật ký sản xuất, theo dõi năng suất, chi phí, doanh thu, lợi nhuận chưa đồng bộ. Công tác xây dựng nhãn hiệu, truy xuất nguồn gốc và liên kết tiêu thụ sản phẩm còn hạn chế.
Thời gian tới, xã Thăng Bình tiếp tục hỗ trợ người dân ứng dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ vào sản xuất; tăng cường chuyển giao công nghệ xử lý chất thải, truy xuất nguồn gốc và chuyển đổi số trong nông nghiệp. Địa phương cũng sẽ lựa chọn những mô hình có hiệu quả, tiềm năng để nâng cấp, nhân rộng, góp phần hoàn thành chỉ tiêu 3.3 và thúc đẩy phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại, xanh và bền vững.