
(Tiền hiền Hà Lam - Nơi lưu giữ các tấm bia còn lại của Văn thánh Hà Lam)
Một thiết chế văn hóa, giáo dục quan trọng của vùng đất Thăng Bình
Theo các nguồn sử liệu, Văn thánh Thăng Bình được khởi dựng vào năm 1856, dưới triều vua Tự Đức. Người có công lớn trong việc đặt nền móng cho công trình là cụ Nguyễn Đạo – một bậc phẩm hạnh được triều đình nhiều lần khen tặng. Với sự đồng thuận của quan phủ Thăng Bình lúc bấy giờ là Tiến sĩ Ngụy Khắc Đản, cụ Nguyễn Đạo đã tự ứng tiền và vận động đóng góp để từng bước xây dựng Văn thánh.
Đến năm 1865, cụ Nguyễn Trường – thân sinh chí sĩ Tiểu La Nguyễn Thành – tiếp tục trích lương bổng để xây dựng nhà Đông đường. Năm 1883, cụ Nguyễn Tạo, con trưởng cụ Nguyễn Đạo, khi đang làm Giáo thụ Thăng Bình đã vận động tiền của để xây dựng hoàn chỉnh nhà Tiền đường, góp phần hình thành một quần thể kiến trúc tương đối hoàn chỉnh gồm khu miếu thờ, nhà học, tiền đường, chánh điện và cổng tam quan.
Trong ký ức của nhiều thế hệ người dân Hà Lam, Văn thánh Thăng Bình từng là một công trình bề thế, trang nghiêm. Phía trước có hồ bán nguyệt trồng sen; cổng tam quan được xây dựng công phu, phía trên có cổ lầu và hệ mái tạo nên vẻ uy nghiêm nhưng hài hòa với cảnh quan làng quê.
Bên trong Văn thánh có Đông đường và Tây đường – nơi tổ chức dạy học, từng giữ vai trò như trường học của huyện trong buổi đầu. Tiền đường treo tấm biển sơn son thếp vàng mang ba chữ “Tiên Đạt từ”, thể hiện sự tôn kính đối với những bậc tiền nhân thành đạt trên con đường khoa cử.
Chánh điện là không gian thờ tự trang nghiêm, chính giữa thờ Khổng Tử; hai bên thờ Tứ phối, Thập triết và các bậc hiền triết của Nho gia. Những bức hoành phi mang các chữ “Đại Thành”, “Thánh Chi Thần” cùng hệ thống văn bia đã tạo nên giá trị đặc sắc về lịch sử, văn hóa và giáo dục của công trình.
Điều đáng quý là kiến trúc Văn thánh Thăng Bình không quá cầu kỳ trong trang trí mà thiên về sự thanh nhã, cân đối, trang nghiêm. Chính sự giản dị ấy càng làm nổi bật tinh thần tôn sư trọng đạo, trọng chữ nghĩa và đề cao việc học của người xưa.

(Trường Tiểu học Kim Đồng là địa điểm Văn thánh Thăng Bình ngày trước)
Nơi ghi danh 164 vị khoa bảng
Một trong những giá trị đặc biệt nhất của Văn thánh Thăng Bình là hệ thống văn bia ghi danh những người đỗ đạt trên vùng đất này.
Ban đầu, năm 1896 có 6 tấm bia được dựng lên. Đến năm 1940, tiếp tục bổ sung thêm 3 tấm, trong đó có các bia ghi tên những người đỗ đạt từ sau năm 1896 cùng những bậc được tôn vinh về phẩm hạnh, tiết nghĩa.
Các văn bia đã ghi nhận 164 vị khoa bảng, gồm 1 tiến sĩ, 3 phó bảng, 31 cử nhân và 129 tú tài. Người đỗ tiến sĩ được ghi nhận là ông Nguyễn Bá Tuệ, quê xã Tuần Dưỡng, tổng An Thái, thuộc vùng Thăng Bình xưa, đỗ khoa Tân Sửu năm 1841.
Những con số ấy không chỉ là danh sách những người thành đạt trong khoa cử. Đằng sau mỗi tên tuổi là câu chuyện về một vùng đất coi việc học là con đường lập thân, lấy tri thức, lễ nghĩa và nhân cách làm nền tảng để trưởng thành.
Hằng năm, vào tháng Hai âm lịch, các bậc khoa bảng trong toàn phủ hội họp tại Văn thánh; đến tháng Tám âm lịch, quan thân làng Hà Lam tổ chức lễ tưởng niệm, tế Thánh. Những sinh hoạt ấy góp phần hình thành một không gian văn hóa đặc biệt, nơi sự học được tôn vinh, người có tài có đức được trọng vọng và truyền thống tôn sư trọng đạo được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Đáng chú ý, vào năm 1943, Văn thánh Thăng Bình còn là một trong những nơi tổ chức dạy chữ Quốc ngữ trên địa bàn, tiếp tục khẳng định mối liên hệ bền chặt giữa công trình với sự nghiệp giáo dục và khai mở dân trí.
Trải qua những thăng trầm của lịch sử
Văn thánh Thăng Bình không nằm ngoài những biến động dữ dội của quê hương, đất nước.
Năm 1886, công trình bị hư hại trong quá trình thực dân Pháp đàn áp phong trào Cần Vương. Đến năm 1895, việc tu sửa được tiến hành. Từ đó đến năm 1906, Văn thánh tiếp tục trải qua nhiều lần trùng tu, bổ sung và hoàn thiện.
Qua chiến tranh và thời gian, quần thể kiến trúc đồ sộ năm xưa dần không còn nguyên trạng. Khu vực từng tọa lạc Văn thánh hiện nằm trong khuôn viên Trường Tiểu học Kim Đồng, trên địa bàn Hà Lam. Những dấu vết kiến trúc cũ chỉ còn lại rất ít.
Tuy nhiên, điều đặc biệt quý giá là 9 tấm bia đá của Văn thánh vẫn được lưu giữ, trong đó có 7 tấm ghi danh các vị khoa bảng cùng các bia ghi nhận những nhân vật có công và những người được tôn vinh về tiết nghĩa. Một số hiện vật như bàn hương án, bức hoành phi mang hai chữ “Đại Thành” cũng được người dân gìn giữ.
Những di vật còn lại tuy không thể tái hiện đầy đủ quy mô của Văn thánh thuở ban đầu nhưng là những chứng tích có giá trị đặc biệt, giúp các thế hệ hôm nay hình dung rõ hơn về một thời kỳ mà việc học, lễ nghĩa và đạo lý được cộng đồng hết sức coi trọng.

(Cầu Hà Kiều do Hà Đình do Hà Đình Nguyễn Thuật vân động xây dựng)
Gìn giữ mạch nguồn hiếu học cho các thế hệ mai sau
Giá trị của Văn thánh Thăng Bình không chỉ nằm ở những gì còn hiện hữu bằng đá, gỗ hay văn bia. Giá trị lớn hơn chính là tinh thần mà công trình đại diện: tôn sư trọng đạo, hiếu học, trọng dụng hiền tài, đề cao nhân nghĩa và lấy tri thức làm nền tảng để dựng xây quê hương.
Từ một vùng đất từng ghi danh hàng trăm người đỗ đạt trong khoa cử, truyền thống hiếu học ấy tiếp tục được bồi đắp qua nhiều thế hệ người Thăng Bình. Trong những giai đoạn khác nhau của lịch sử, vùng đất này đã sản sinh nhiều nhân sĩ, trí thức, nhà yêu nước và những người có đóng góp quan trọng cho quê hương, đất nước.
Bởi vậy, việc nghiên cứu, bảo tồn và phát huy giá trị Văn thánh Thăng Bình không đơn thuần là gìn giữ một di tích cũ. Đó còn là gìn giữ ký ức văn hóa, vun đắp niềm tự hào và tạo nên một địa chỉ giáo dục truyền thống sinh động cho thế hệ trẻ.
Những tấm bia ghi tên người xưa, những hiện vật còn được gìn giữ và ký ức về một Văn thánh từng uy nghi giữa vùng đất Hà Lam chính là lời nhắc nhở về đạo lý “tôn sư trọng đạo”, “hiền tài là nguyên khí”, về ý chí học tập và khát vọng vươn lên đã được các thế hệ tiền nhân bền bỉ vun đắp.
Trong hành trình xây dựng Thăng Bình ngày càng phát triển, văn minh và giàu bản sắc, những giá trị ấy càng cần được nghiên cứu đầy đủ, bảo tồn nghiêm túc và lan tỏa sâu rộng. Việc tiếp tục hoàn thiện tư liệu lịch sử, khoanh vùng bảo vệ, gìn giữ các văn bia, hiện vật; đồng thời nghiên cứu hình thức phục dựng, giới thiệu và phát huy giá trị Văn thánh gắn với giáo dục truyền thống, hoạt động văn hóa và trải nghiệm lịch sử là việc làm có ý nghĩa lâu dài.
Văn thánh Thăng Bình hôm nay có thể không còn nguyên dáng hình như hơn một thế kỷ trước, nhưng tinh thần hiếu học, trọng nghĩa, trọng tài mà tiền nhân gửi lại vẫn hiện hữu trong mạch nguồn văn hóa của quê hương. Gìn giữ và phát huy giá trị Văn thánh cũng chính là gìn giữ một phần căn cốt văn hóa của Thăng Bình, để truyền thống tốt đẹp ấy tiếp tục được trao truyền, bồi đắp và tỏa sáng trong các thế hệ mai sau.